HỎI ĐÁP NHA KHOA

Nụ Cười Mới, Cuộc Sống Mới!

I – Giảm lượng cafein

Cafein có hại cho ruột, khi giảm hay bỏ hẳn, triệu chứng dạ dày- đường ruột sẽ thuyên giảm. Sau đây là danh sách liệt kê lượng cafein có trong một số thức ăn, milligram cafein trong ngoặc đơn:

  • Cà phê (một muỗng (141 gr))

– Pha, chảy nhỏ giọt (60-180)

– Pha, lọc qua bình (40-170)

– Hòa tan uống liền (30-120)   

– Đã khử chất cafein, pha (2-5)

– Đã khử chất cafein, hòa tan uống liền (1-5)

Giảm caffein ngăn ngừa rồi loạn tiêu hóaGiảm lượng cà phê mỗi ngày có thể cải thiện các bệnh về đường ruột.

  • Trà (một muỗng (141 gr))

– Pha, nhãn hiệu lớn (20-90)

– Pha, nhãn hiệu nhập khẩu (25-110)

– Hòa tan uống liền (25-50)

– Ly, có đá (67-76)

  • Các thứ khác

– Nước ngọt có chứa cafein (15-30)

– Nước uống có cacao (2-20)

– Sữa có pha sôcôla (2-7)

– Một khẩu phần sôcôla sữa (1-15)

– Một khẩu phần sôcôla màu đậm, ngọt vừa(5-35)

– Một thỏi sôcôla hình vuông (26)

– Một khẩu phần sirô có hương vị sôcôla (4)

II – Bổ sung thêm chất xơ

Chất xơ rất quan trọng giúp tránh táo bón. Chất xơ là một bộ phận thực vật cơ thể không tiêu hóa được. Có hai dạng: chất xơ hòa tan trong nước (tan rã trong nước) và chất xơ không hòa tan trong nước (không tan rã trong nước mà hấp thu nước); đó là ý nghĩa của chất xơ hòa tan và không hòa tan.

Chất xơ hòa tan và không hòa tan thực sự khác nhau, nhưng lợi ích của chúng ngang như nhau.

1. Chất xơ hòa tan

Chất xơ hòa tan làm giảm cholesterol xấu, tức là lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL), trong cơ thể.

Các chuyên gia chưa xác định rõ chất xơ hòa tan hoạt động như thế nào, nhưng giả thuyết được nhiều người chấp nhận là nó trộn với mật do gan tiết ra và tạo thành dạng gel giữ lại các cục tạo cholesterol, do vậy hạ thấp mức LDL.

giảm cholesterol xấuMột số loại chất xơ hòa tan.

2. Chất xơ không hòa tan

Cũng giống như con nhện bắt những côn trùng nhỏ trong cái lưới của nó. Chất xơ không hòa tan không ảnh hưởng đến    cholesterol, nhưng nó điều chỉnh chuyện đi tiêu.

Bằng cách nào? Khi đi qua hệ tiêu hóa, chất xơ không hòa tan hấp thu nước như cái bọt biển và giúp biến chất thải thành dạng rắn nhanh chóng, khiến cho phân lớn, mềm, và dễ đi tiêu.

Không có chất xơ không hòa tan, chất thải dạng rắn chỉ được đẩy xuống đại tràng như thường lệ, ở đó và khô cứng cho tới lúc muốn đi tiêu.

Thức ăn nhiều tinh bột thường đi tiêu ra phân khô. Tình hình xấu đi khi ta “phớt lờ sự thôi thúc đi tiêu,” vì đại tràng khử nước của chất thải cho tới khi phân cứng và khó đi tiêu, tức là tình trạng táo bón.

Chất xơ hòa tan ngăn ngừa rối loạn tiêu hóaChất xơ hòa tan giúp tránh tình trạng táo bón và hạn chế rối loạn tiêu hóa.

Chất xơ không hòa tan giúp điều hòa sự đi tiêu bằng cách đẩy nhanh mọi thứ đi qua. Chất xơ không hòa tan tăng thời gian phân đi qua bằng cách tăng sự vận động của đại tràng và hạn chế thời gian độc tố trong thức ăn tiếp xúc với thành ruột. Đó là lý do tại sao chất xơ không hòa tan giúp giảm đáng kể nguy cơ ung thư đại tràng.

3. Các nguồn chất xơ không hòa tan

Các nguồn chất xơ không hòa tan là cám lúa mì và ngũ cốc nguyên hạt, lớp vỏ của một số loại trái cây và rau quả, các loại hạt, rau xanh, và rau cải (bông cải, bông cải xanh, và cải bruxen). Vấn đề là phải hiểu ngũ cốc nguyên hạt nghĩa là gì.

Ví dụ, có ý kiến cho rằng bánh mì màu đen hoặc nâu có nhiều chất dinh dưỡng; không phải như thế. Thực vậy, nhiều loại bánh mì nâu đơn giản chỉ là bánh mì trắng được tăng cường hương vị nhuộm màu bằng mật mía. (“Tăng cường hương vị” nghĩa là trong khi chế biến dưỡng chất bị mất đi, đã được thay thế).

4. Uống nước với chất xơ

Chất xơ như miếng bọt biển. Rõ ràng bọt biển khô chẳng có tác dụng gì. Phải nhúng nước nó mới hữu dụng, chất xơ cũng thế. Chất xơ không có nước cũng vô dụng như bọt biển khô. Phải nhúng nước với chất xơ!

Uống nước chứa chất xơUống nước chất xơ kích thích vị giác và dễ tiêu hóa hơn.

Sau đây là công thức chất xơ, nước: Uống hai ly nước với chất xơ. Tức là uống một ly với thực phẩm đang ăn bất kỳ. Dù món ăn đó không chứa nhiều chất xơ lắm, uống nước trong bữa ăn là một thói quen tốt nên tập. Uống hai ly nước sau khi ăn. 

III – Năng vận động

Sức hút của trái đất giúp thức ăn đi xuống. Phải đứng lên vận động nếu muốn triệu chứng dạ dày-đường ruột giảm bớt mà không cần phải dùng thuốc điều trị. Định nghĩa của tình trạng thiếu hoạt động là gì? Không vận động!

Nếu bạn làm công việc văn phòng hay phần lớn thời gian ngồi trước máy tính, trong xe hơi, hay xem TV, bạn là người thiếu hoạt động. Bạn nên kết hợp vận động bằng các hình thức nào đó trong sinh hoạt hàng ngày nếu muốn được xem là người năng vận động.

1. Các bài tập vận động

Vận động có thể là: tập luyện, đi dạo chốc lát quanh khu phố, hoặc dắt chó đi dạo.

Nếu phần lớn cuộc sống thiếu hoạt động, nên bắt đầu với những hoạt động đơn giản, thậm chí nhàn hạ như làm vườn, cho chim ăn trong công viên, hoặc một số động tác tay chân đơn giản.

Bất cứ hành động nào có xu hướng tích cực hơn đều là một bước tiến quan trọng. Hoạt động tập luyện cường độ thấp như đi bộ giúp giảm tỉ lệ ung thư như ung thư đại tràng và ung thư tuyến tiền liệt.

Vận động ngăn ngừa rối loạn tiêu hóaCác bài tập vận động giúp tăng cường sức khỏe và ngăn cản một số loại ung thư.

Theo các chuyên gia cũng nên tìm những người bạn, hàng xóm, hay người thân cùng mình “tập luyện thân thể”. Như thế sẽ giúp mình say mê luyện tập hơn, hạn chế việc bỏ buổi tập. Chọn một hoạt động thích hợp.

Dù là đi bộ, bổ củi, nhảy dây, hay khiêu vũ, chọn hành động nào cũng được miễn là mình ưa thích. Mỗi lần không nhất thiết phải làm chỉ một hành động.

Thay đổi thông lệ tập luyện để tránh sự đơn điệu; chỉ cần đảm bảo hành động bạn chọn được làm liên tục trong một khoảng thời gian nhất định.

Đi bộ trong hai phút, rồi ngừng lại trong ba phút đó không phải là liên tục. Ngoài ra, điều quan trọng là chọn hoạt động không làm xấu đi bệnh trạng hiện tại. Đừng để hai ngày trôi qua mà không tập luyện gì cả.

2. Thời gian luyện tập

Ngoài ra, hãy chọn thời gian tập luyện. Với người cao tuổi hay bị bệnh, vài phút cũng là khởi đầu tốt.

Với người ít hoạt động nhưng vẫn khỏe mạnh, hãy tập từ 20-30 phút.

3. Ý nghĩa của tập luyện

Có thể định nghĩa tập luyện là dùng cơ bắp, tứ chi, v.v… vận động để có sức khỏe; để rèn luyện thể chất, trí óc hay tinh thần. Khi nói về tập luyện, người phương Tây thường nhấn mạnh đến rèn luyện cơ thể mà hoàn toàn bỏ qua rèn luyện trí óc và tinh thần.

Chỉ gần đây nghiên cứu ở phương Tây mới bắt đầu tập trung vào những ích lợi tinh thần  của tập luyện. (Chẳng hạn, theo nghiên cứu tập luyện tạo ra endorphine, hormon đem lại cảm giác khỏe khoắn).

Nhưng nghiên cứu phương Tây lại không khuyến khích thiền hay các hình thức rèn luyện làm dịu thần kinh khác, trong khi chúng đã được chứng minh là giúp cải thiện sức khỏe tinh thần, nhất là giảm stress, một nguy cơ chủ yếu của bệnh tim.

Tập luyện ở phương Đông, hàng ngàn năm qua, chú trọng rèn luyện sức khỏe trí tuệ và tinh thần thông qua cơ thể, chẳng hạn dùng hơi thở và tư thế.

Ngồi thiền ngăn ngừa rối loạn tiêu hóaCác bài tập ngồi thiền cũng có tác dụng cải thiện sức khỏe và tinh thần đáng kể.

Chúng ta không phải không biết những truyền thống văn hóa giúp cải thiện sức khỏe tinh thần, như các điệu vũ truyền thống, lễ cầu nguyện tích cực kết hợp với hoạt động cơ thể, đứng thành vòng tròn liên kết cả cộng đồng và giao tiếp xã hội.

Tắm hơi cũng giúp cơ thể loại bỏ độc tố bằng cách bài tiết mồ hôi. Đây là những hình thức hoạt động tăng cường sức khỏe ta nên tham khảo và làm theo.

Con người là sinh vật hiếu khí, sinh vật cần oxy mới sống được. Tuy nhiên, một số vi khuẩn kỵ khí; chúng có thể sống trong môi trường không có oxy. Động tác nhảy và vận động giúp thở nhanh hơn, vì thế cơ thể nhận nhiều oxy hơn.

Tại sao lại thế? Vì máu chứa oxy. Máu chảy càng nhanh, càng nhiều oxy tới các cơ quan của cơ thể. Nhưng khi bác sĩ bảo phải tập luyện hay tập luyện hiếu khí, không phải đơn thuần là tăng cường oxy mà còn có ý phải rèn luyện cả cơ tim.

Tim đập càng nhanh, càng được rèn luyện nhiều. Nếu đã bị bệnh tim hoặc đang uống thuốc ảnh hưởng tim, hãy hỏi ý    kiến bác sĩ nhằm đảm bảo không bắt tim làm việc quá sức. Khi có nhiều oxy hơn trong cơ thể, mỡ được đốt cháy (xem phần dưới đây), hô hấp tốt hơn, huyết áp cải thiện, và tim làm việc tốt hơn.

Oxy cũng làm giảm triglyceride và cholesterol, tăng lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) là “cholesterol tốt” đồng thời giảm lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) – cholesterol xấu. Nghĩa là máu trong động mạch sẽ không đóng cục, giảm đáng kể nguy cơ bệnh tim và đột quị.

Nhiều oxy hơn khiến não làm việc tốt hơn, vì thế thấy khỏe hơn. Theo nghiên cứu, trầm cảm giảm đi khi tăng lượng oxy vào cơ thể. Kỹ thuật cổ đại như yoga, đặc biệt giúp tăng sức khỏe trí óc và tinh thần là nhờ kết hợp hít thở sâu và thể dục, cải thiện lượng oxy và máu vào các cơ quan của cơ thể. Theo nghiên cứu, tập luyện giúp giảm đáng kể tỉ lệ mắc nhiều căn bệnh khác, kể cả ung thư.

Theo một số nghiên cứu, tế bào ung thư có khuynh hướng tăng trưởng nhanh trong môi trường thiếu oxy. Càng có nhiều oxy trong máu, càng giúp cơ thể phòng ngừa ung thư. Ngoài ra, vì nhiều bệnh ung thư là do độc tố hòa tan trong chất béo, nên càng ít mỡ trong người, càng ít chất độc hòa tan trong chất béo bị tích tụ.

Một cách tính cường độ tập luyện không cần bắt mạch là thang điểm đánh giá cường độ tập luyện. Giờ đây là phương pháp khuyên dùng để đánh giá mức độ gắng sức khi tập luyện.

Thang tỉ lệ từ 6-20. Hoạt động nhẹ nhàng xếp ở mức 7 chẳng hạn, còn hoạt động rất mạnh có thể xếp mức 19. Theo chuyên gia rèn luyện sức khỏe, nên kiểm tra bằng cách nói chuyện trong khi tập luyện để xếp hạng mức độ gắng sức cá nhân.

Nếu nói chuyện mà phải thở bằng miệng, có lẽ đã cố gắng quá mức. Phải đủ sức thực hiện cuộc đàm thoại bình thường trong suốt thời gian tập luyện từ nhẹ đến nặng. Điều quan trọng cần nhớ về thang điểm này là nó mang tính cá nhân; với người này một hoạt động xếp ở mức 7 thì người khác lại xếp mức 10.

(Còn tiếp…)

(…Xem tiếp TẠI ĐÂY)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *